Vốn ngoại tiếp tục đổ ròng vào cả hai sàn bất chấp khối nội đẩy mạnh bán ra.
Nhà đầu tư ngoại giao dịch trên diện rộng với 98 mã, trong đó họ giữ trạng thái mua ròng ở phần lớn trong số này với 72 mã. Lực cầu tiếp tục áp đảo so với lực cung, khối này bán gần 2 triệu đơn vị trong khi mua vào gần gấp đôi lượng này. Chốt phiên, họ mua ròng 53,3 tỷ đồng qua khớp lệnh – tương ứng về lượng hơn 1,7 triệu đơn vị.
Top mua ròng của khối ngoại trên HSX
|
Mã CK |
KLKL Ròng |
GTKL Ròng |
|
MSN |
100.830 |
10.437.300 |
|
HAG |
403.720 |
9.010.331 |
|
VIC |
58.570 |
6.491.800 |
|
HPG |
351.960 |
6.103.951 |
|
PVD |
152.490 |
5.867.428 |
|
BVH |
81.850 |
4.257.750 |
|
CTG |
180.740 |
4.143.195 |
|
KDC |
77.150 |
2.283.970 |
|
DPM |
62.380 |
1.694.074 |
|
DIG |
123.780 |
1.476.970 |
Đơn vị: KL khớp lệnh (cổ phiếu); GT khớp lệnh (nghìn VNĐ)
Khối ngoại “gom hàng giá rẻ” khá mạnh ở MSN, hoạt động mua ròng của khối này chiếm trên 72% tổng KLGD của MSN. Như vậy trong khi khối nội đẩy mạnh bán ra thì khối ngoại lại duy trì lực cầu đối ứng hấp thụ hết. MSN chốt phiên giảm mạnh 2,8% xuống còn 104.000 đồng/CP.
MSN hiện đang được giao dịch với P/E 16,85x và P/B 3,58x, cao hơn so với P/E và P/B ngành Thực phẩm là 14,46x và 3,01x. Trong vòng 1 tháng vừa qua, diễn biến giá của MSN vượt trội so với ngành khi tăng tới 14,92%, trong khi của nhóm ngành Thực phẩm chỉ tăng gần 8%.
HAG được mua nhiều nhất về lượng. Mã này hôm nay tiếp tục tăng trần nhờ sức mua từ trong nước là chính, song khối ngoại cũng góp phần đáng kể với tỷ trọng mua ròng hơn 32%.
Năm 2011, HAG ước đạt 1.700 tỷ đồng EBT nhưng dòng tiền từ hoạt động kinh doanh (CFO) và từ hoạt động đầu tư (CFI) tiếp tục âm, lợi nhuận của công ty chủ yếu đến từ bán căn hộ, bán 5% cổ phần tại HAGL Land và khai thác quặng sắt. Chúng tôi nhận thấy HAG đang cơ cấu lại cấu trúc vốn xuống mức an toàn hơn cho thanh khoản ngắn hạn thông qua giảm nợ ngắn hạn và tăng các nguồn tài trợ dài hạn (HAG mới chào bán thành công 500 tỷ đồng trái phiếu kỳ hạn 3 năm, LS năm đầu 18%). Tổng vốn vay của HAG đang chiếm khoảng 42% tổng tài sản, trong đó nợ ngắn hạn giảm đáng kể xuống còn 11% (TTM3Q/2011).
Hiện HAG đang được giao dịch với P/E 5,64x và P/B 1,16x - khá thấp so với ngành Bất động sản (8,51x và 4,62x).
Top bán ròng của khối ngoại trên HSX
|
Mã CK |
KLKL Ròng |
GTKL Ròng |
|
VCB |
-231.150 |
-5.437.203 |
|
CSM |
-237.510 |
-2.358.229 |
|
TRC |
-45.090 |
-1.480.766 |
|
DRC |
-70.930 |
-1.324.547 |
|
SBT |
-31.910 |
-390.574 |
|
ITA |
-38.160 |
-296.740 |
|
NTL |
-18.240 |
-256.267 |
|
GTT |
-40.000 |
-228.800 |
|
CTD |
-5.940 |
-172.382 |
|
PNJ |
-2.770 |
-106.624 |
Đơn vị: KL khớp lệnh (cổ phiếu); GT khớp lệnh (nghìn VNĐ)
Bên bán, VCB đứng đầu với giá trị vốn thoái lui trên 5,4 tỷ đồng – tương đương hơn 230 nghìn đơn vị. VCB chốt phiên giảm 2,46% xuống 23.800 đồng/CP.
Như chúng tôi đã phân tích, tăng trưởng năm 2011 của VCB hiện vẫn dựa nhiều theo tăng trưởng tín dụng, trong khi quản trị rủi ro chưa tương xứng. Năm 2011, tăng trưởng tín dụng của VCB mẹ là 22,3% yoy, việc mở rộng tín dụng giúp thu nhập lãi thuần tăng mạnh 59,5% yoy đạt gần 12.800 tỷ đồng, NIM đạt 4,29%, LN thuần trước CF dự phòng rủi ro tín dụng tăng gần 37%, chạm mức 9.358 tỷ đồng. Tuy nhiên chi phí dự phòng rủi ro tín dụng tăng mạnh 148,25% khiến EBT của VCB mẹ chỉ tăng 9,1% so với cùng kỳ, ghi nhận ở mức 5.971 tỷ đồng.
Bên sàn Hà Nội, vốn ngoại duy trì giải ngân nhẹ với 2 tỷ đồng đổ vào thị trường. Trong đó chiều mua thu hẹp nhường chỗ cho chiều bán tăng lên. Họ mua chủ yếu PVE, PVI, DBC, PVS, VCG đồng thời bán mạnh hàng loạt mã cổ phiếu chứng khoán như KLS, BVS, VND.
Phương Nguyễn | Analyst | Stox.vn